trăng khải
- LVMỹ-K24
- Feb 8, 2022
- 28 min read

. LVM Bút danh Lê Tâm Chánh
(Đặc san Trên Đường Đông Tiến 2007)
1949. Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt… Gia tộc Trần Thiện Khải vốn là dòng dõi võ quan triều đình Huế. Một vài bạn cùng quê với Khải kể lại rằng: Ông cố của Khải trấn nhậm một phủ ở miền Nam, đến lúc được chiếu chỉ hồi đáo về triều thì trên đường đi, cụ bị ngã bệnh và tạ thế ở Bình Thuận. Gia đình phải trụ lại đó. Khải trở thành “người Phan Thiết”.
Dù là cháu quan võ, máu văn nghệ cũng chảy rần huyết quản họ Trần. Trần Thiện Khải nhỏ tuổi hơn, nhưng lại đóng vai chú của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường. Hết trung học ở trường Phan Bội Châu, Khải xách cây đàn thùng vào Sài Gòn để theo tiếp bậc đại học thời cuối thập niên 60, lúc chiến sự đã lên cao điểm sau trận Mậu Thân.
1971.Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt… Giòng máu võ quan đâu đó trong người sôi sục, Khải rời những con đường cây dài bóng mát để làm quen với thao diễn trường nắng cháy da người. Sau mấy tháng căn bản Quang Trung và gần nửa năm thực tập trên các tuần duyên hạm, Khải vào khóa học chính thức ở Nha Trang: Song Ngư II. Vẫn không quên mang theo cây đàn.
Khải ít nói, và cũng không nhiều bạn. Chỉ nói điều rất cần nói, cho người rất cần nghe. Không thiếu, nhưng nhất định cũng không để thừa chữ nào. Người không quen cứ bảo là tính Khải hay “cộc”. Bạn đã thân thì biết rõ Khải quý chiều sâu hơn diện rộng, trọng ý thức hơn khoa bảng, và không thiết những điều phù phiếm. Có thì có tự mảy may. Không thì cả thế gian này cũng không. Khải sống rất thật tình và sống hết mình. Ghét nhất là tính đãi bôi. Khải trọng nguyên tắc và chờ đợi người chung quanh cùng giữ đúng nguyên tắc.
Châm ngôn sống của Khải có thể đúc gọn thành 3 chữ: “Có đáng không?”. Sau đó mới tra thêm một động từ vào giữa. Có đáng nói không? Có đáng chơi không? Có đáng làm không?… Mà hễ đã nói thì không ngại ai. Còn hễ ưng làm thì không ngại việc. Nhất định sẽ làm tới nơi tới chốn. Làm kỳ được.
1972. Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo… Trong số 280 sinh viên cả khóa, Khải thuộc hàng cao thủ “độc cô cầu bại” về ngón đàn thùng cổ điển. Tất nhiên, không thể nào tưng tửng khảy đàn trong thời huấn nhục. Lúc nhập khóa, ít ai biết tài chơi đàn của Khải, và đã bầu anh Lương Ngọc Tâm, vốn là trưởng ban nhạc trẻ The Cat Trio làm Trưởng ban Văn nghệ. Khải hợp lực tận tình trong ban nhạc 24. Lúc sinh viên khóa 23 đàn anh ra trường, 24 lại chưa có đàn em, vì đây là khóa học đầu tiên áp dụng lại chương trình hai năm như các khóa 18 trở về trước. Không đàn anh. Chẳng đàn em. Sáu tháng này đúng là “vàng son một đận” của Song Ngư II, nói chung.
Bấy giờ, Khải thường ôm đàn ngồi trên bậc tam cấp của doanh trại mà dạo nhạc hàng đêm. Có đêm, ánh trăng xuyên qua hàng dương rọi xuống khoảnh sân cát kéo láng từng đốm sáng lung linh dị hình. Tiếng đàn của Khải lại vọng ngược lên tầng không, vi vu hòa âm cùng gió biển thầm thì. Khải có những trăn trở riêng:
24 nhập học vào thời Lam Sơn 719 cháy bỏng. Rồi Bình Long An Lộc trùng điệp mấy tầng vây hãm. Qua năm sau là cờ bay trên Quảng Trị thân yêu ở khúc cuối đại lộ kinh hoàng của mùa hè đỏ lửa. Các sư đoàn tổng trừ bị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân được điều động trám chỗ như sao xẹt khắp bốn vùng chiến thuật. Vậy mà tuyệt nhiên sinh viên trong trường không được biết gì nhiều về tin tức chiến sự, về chiến lược chiến thuật tấn công hay ngăn chống, và những bài học rút tỉa. Sinh viên bên trường Không Quân cũng vậy. Đám sinh viên Võ Bị xuống Nha Trang học chuyên ngành cũng không khác.
Phương pháp truyền đạt và huấn luyện ở trường khá bài bản, nền nếp, cổ điển. Nghĩa là thiếu khai phá, sáng tạo. Các giờ học chiến tranh chính trị chỉ đạt hiệu năng ngủ bù cho những ngày đi bờ bát phố hay những đêm chụm đầu thuốc lá cà phê. Chiều trên phá Tam Giang không du dương ru hồn bằng …Chiều một mình qua phố. Người ở lại Charlie chưa đủ để trả lời dứt khoát nỗi hoang mang …Em hỏi anh bao giờ trở lại? Báo chí Sài Gòn chỉ nói về tham nhũng, về buôn lậu có còi hụ, và về những hoạt động xôi đậu của đám khoa bảng lơ lửng lòng thòng thuộc thành phần thứ ba. Hay nói về chính sinh hoạt báo chí những ngày ký giả ăn mày…
Sinh viên sĩ quan được trang bị rất dày về kỹ thuật, cả chỉ huy, thiên văn, khí tượng, hải hành, hải pháo và …cơ khí, nói chung là trên trời dưới nước đủ cả; nhưng lại rất mỏng về bối cảnh, ý thức và vai trò trong cả cuộc chiến. Làm sao ra trường thạo việc cốt lõi từ ý thức chính trị mà đánh đấm cho ra hồn? Làm sao mà chờ đợi toàn dân hết lòng với cuộc chiến bảo vệ tự do, bảo tồn nhân phẩm? Làm sao để cân bằng lực lượng hỗ trợ khi mà gần một nửa đồng bào miền quê có con trai bên này và con rể bên kia? Làm sao để mức tiến cả nước không bị khựng lại vì lý do …chiến tranh? Đã vậy, Hải Quân hành khúc vẫn cứ rạt rào “Ra đi không vương thê nhi”. Tác giả chưa từng đi lính hay chưa từng lập gia đình?
1973.Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi… Ai vậy? Khải không kể, không nói. Cũng ít khi nghe gọi tên nhận thư. Chỉ ôm đàn ra ngồi dưới bệ tượng thánh Trần ngoài công viên Thánh Tổ mới xây, lặng ngắm Hòn Tre mờ mờ ngoài khơi, chờ con nước lớn, đợi vầng trăng lên. Nhưng, để ý kỹ, tiếng đàn của Khải ngày càng ngọt hơn cho tới lúc ra trường.
Kỷ yếu ra trường của khóa, mỗi đứa một trang, có in hình, ngày sinh, quê quán, và ước vọng riêng, để sau này lật ra xem lại mà nhớ nhau, và có khi là để ghi thêm ngày thủy táng. Lắm anh dệt mộng hải hồ ở phần ước vọng này. Bao nhiêu bến nước bấy nhiêu bến tình! Thực tập trên đệ thất hạm đội! Tu nghiệp ở San Diego! Ghi nhật ký hải hành trên Soái hạm! Dắt tàu đi xuyên Nhật Đạo (Date line) giữa Thái Bình Dương! Hoặc giả, xa hơn nữa, mong một ngày …sao rơi trên vai áo! Mỗi chàng một kiểu, mười trang đủ mười.
Khải chỉ ghi vỏn vẹn bảy chữ: “Ước vọng lớn lắm, viết không đủ”.
Bạn sơ khẽ bảo thằng này… lối! Bạn thân, phải rất thân, mới biết chí khí Khải ngất trời.
Học viện Hải quân Nha Trang có truyền thống cho sinh viên chọn nhiệm sở lúc ra trường ưu tiên theo thứ hạng tốt nghiệp. 280 ô nhiệm sở được vẽ sẵn trên bảng. Thường ra, 2 hoặc hơn 2 nhiệm sở là thuộc cùng một đơn vị. Tổng cộng có trên 100 đơn vị. Mỗi người chọn một ô, lần lượt từ thủ khoa đến vĩ khoa. Sinh viên vĩ khoa được nhận thêm một chiếc đồng hồ Seiko-5, như một quà tặng an ủi vì không còn chọn lựa nào khác. Các đơn vị tàu biển thường được anh em chọn trước. Từ hạm đội, tới hải đội, tới duyên đoàn… Phần nhiều các ô nhiệm sở giang đoàn tác chiến vẫn để trống và ưu ái dành riêng cho các bạn cuối sổ, đặc biệt là các nhiệm sở kiêu hùng thuộc Lực Lượng Thủy Bộ.
Khải từng thực tập nhiều tháng trên tàu tuần duyên trước đây, giỏi Anh ngữ, lại đậu cao, nên khi ra trường chọn ngay nhiệm sở HQ-614, phần lớn công tác dọc theo hải phận vùng 1 và vùng 2 duyên hải. Vậy là Thiếu úy Khải bấy giờ chưa có duyên gặp gỡ vị Phó đề đốc Tư lệnh Lực Lượng Thủy Bộ trẻ tuổi và nổi tiếng của cả hải quân Việt Nam.
Những tách cà phê đen, những điếu Bastos quân tiếp vụ chuyền nhau. Cả khóa chia tay, bung nở như bắp rang trên một tấm bản đồ da beo sau hiệp định Paris. Cộng sản đã hợp thức hóa được những vùng cát cứ trong Nam. Những ngày đầu tân đáo đơn vị, nhiều người bạn của Khải đã thả chiến đỉnh dọc theo sông lạch để bắn gãy từng dãy cờ ba màu. Những mật khu Hốt Hỏa, Cồn Kẻm, Thạnh Phong… trở thành vùng oanh kích tự do. Kinh Phụng Hiệp vừa được khai thông xuống tới U Minh, Chương Thiện.
1975.Vì ai gây dựng cho nên nỗi này… Đứt phim. Gãy gánh. Rã đàn tan nghé. Song Ngư II ra trường chưa đầy 2 năm. Vài đứa rơi rụng trận Hoàng Sa. Đám còn lại chưa đứa nào kịp đổi nhiệm sở. Cũng chưa kịp vẽ thêm 1 gạch mỏng trên cầu vai. Hơn nửa khóa kẹt lại, chờ ngày đi tù cải tạo. Một số trôi dạt ra hải phận quốc tế rồi qua Phi. Mọi người chỉ nghe trên máy truyền tin khẩu lệnh duy nhất điều động cả hạm đội ngày di tản của vị Tướng hải quân trẻ tuổi lừng danh vừa kể. Lần đầu tiên, Thiếu úy Hạm phó Trần Thiện Khải được nghe chỉ thị trực tiếp từ Phó đề đốc Tư lệnh Hoàng Cơ Minh.
Nhiều bạn khác không được vậy. Có đứa lái khinh tốc đỉnh PCF dọc sông Lòng Tảo rồi nhảy lên tàu Trường Xuân. Có đứa đi bằng ghe Ferro xi măng -do Hải quân Công xưởng Việt Nam chế tạo cho nhu cầu trấn thủ các cửa sông- mất mấy ngày liền mới tới Singapore, rồi vòng ngược về Phi. Không mộng ước thực tập đệ thất hạm đội cũng phải qua Subic Bay và Orote Point. Không mơ ngày tu nghiệp ở Hoa Kỳ cũng lục đục qua Guam, qua Wake, rồi qua Mỹ. Đứa thì Marines Camp Pendleton (San Diego, California). Đứa thì Fort Indiantown Gap (Philadelphia). Đứa thì Eglin Air Base (Florida). Đứa thì Fort Chaffee (Arkansas). Khải rơi vào trại Fort Chaffee, cùng với một số bạn khác, hầu hết đều độc thân: Đỗ Thành Huấn, Lương Văn Mỹ, Nguyễn Sáng Chiếu….
Khải sớm nhận được giấy tờ của nhà thờ bảo trợ ở Rhode Island, rời trại trước anh em. Đêm trước ngày rời trại, Khải nhận 20USD theo thủ tục giắt túi cho chi phí ăn uống đi đường, nhưng lại mời cả đám 24 ra sân cỏ trước thương xá nhà binh PX cùng uống với nhau một ly bia bốc chia tay. Mỹ mượn được cây đàn thùng của nhóm thanh niên Phật tử. Khải cầm đàn yêu cầu mỗi đứa hát một bài. Toàn những khúc sầu nhớ, rã rượi, buông xuôi. Cả đám xúm nhau điểm danh đám bạn còn gặp được mặt nhau ngày đứt phim và kể chuyện hạ kỳ lần cuối khi tàu vào cảng Subic. Mỗi đứa một phiên bản khác nhau, ngoại trừ điểm chung là những giọt nước mắt tức tưởi của đám đàn ông bỗng dưng bị trói tay thả trôi ra biển. Tới phiên sau cùng, Khải dạo bài Tan Tác của nhạc sĩ Tu Mi: “Bây giờ chim đã bạt ngàn khôn tìm…Cách sông cách núi muôn trùng…Gió ơi…”.
Hỏi ra trại định làm gì? Khải bảo: Đi học. Và khuyên các bạn 24 nên theo học lại ngành nào từng mê thích trước khi vào lính. “Để sau này còn có chỗ tiến tới. Có khi tiến tới chính là trở về, không chừng!”. Rồi ghi số điện thoại của nhà thờ bảo trợ. Rồi chia tay, lần nữa. Huấn Đỗ về California. Lý Văn Quy về Kansas. Chiếu & Mỹ cùng về Minnesota. Mấy đứa còn lại mỗi đứa một nơi….
1976. Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò… -Alô, Mỹ hả? -Alô, Khải hả, đang ở đâu đó? -New York! Mỹ rủ mấy bạn bên đó qua đây nghe diễn thuyết nha! -Khi nào? -Cuối tháng 5. –Ai thuyết? –Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh! –OK, bọn này sẽ qua DC dự lễ Phật đản rồi chạy lên NY gặp Khải.
-Alô, Khải ơi, Mỹ đây! – Bồ đang ở đâu vậy? –DC! Sorry Khải, bọn này phải quay xe về lại Minnesota. Thằng Chiếu bị tai nạn lật xe, gảy giò. Hai thằng em nhí của nó cũng đang nằm nhà thương, không ai lo. Đi nghe diễn thuyết có gì hay kể bọn này nghe với, nha! –OK, Mỹ, hẹn dịp khác!
Dịp khác không có chuôi để cho ai nắm. Dịp khác thoảng qua như gió, một đi không trở lại. Nhà Phật bảo là thiếu căn duyên. Nhiều bạn vượt biên đã qua tới Mỹ, tới Úc…. Khải ra trường năm 79. Nhiều bạn khác ra trường năm 80. Vài đứa gửi thiệp hồng mời bạn bè về dự lễ cưới. Nhiều đám tụ họp cụng ly côm cốp, cười nói râm ran. Khải vẫn cu ky độc thân một cõi. Nó đợi ai? Nó tính chuyện gì vậy cà? Nó bảo nó chưa muốn thả neo. Nó bảo nó không muốn được nuông chìu hay bị ràng buộc. Cái thằng đến lạ! Mà hẳn phải vậy. Ước vọng của nó đâu phải là tấm văn bằng hay một mái ấm!
1981.Chàng từ đi vào nơi gió cát… –Alô, Mỹ hả? –Alô, Khải đang ở đâu vậy? – Cali. Gọi chia tay với Mỹ. Nhờ Mỹ nói lời chia tay với các bạn khác. –Chia tay …để đi đâu? -Về chứ không phải đi. –Mình bay qua gặp Khải được không? –Không kịp đâu, sáng mai rời đây rồi. Cho mình gửi lời chúc thành công đến các bạn 24, và một lời nhắn đừng quên Việt Nam. Đừng quên Sài Gòn đã bị xóa tên. Làm gì cũng phải nhớ đến lần cả bọn trôi ra biển. Còn đám bạn không kịp trôi nữa… -Ừ, sẽ làm đúng theo lời Khải dặn. Làm sao liên lạc nhau? -Đừng lo, sẽ có tin. -Ừ, nhớ báo tin nha! -Thôi bye Mỹ! -Thượng lộ bình an nha Khải!
Tuần sau, thằng bạn sắp ra trường ở Minnesota nhận được mấy chữ viết vội của Khải, kèm theo là bản sao 3 bài nhạc viết tay, thay cho một cái bắt tay từ giã:
…một ngày kia chim đàn reo vui ngày hội
mừng quê ta thái bình em bé hát vang
toàn dân quân chào đón khúc ca khải hoàn
nước Việt mình nam-bắc sống bình yên…
(Một Ngày Kia – 1980)
…em vẫn đợi anh về, mơ một ngày vui hội trùng dương
quê hương đẹp rạng ngời, đôi ta về thăm lại ruộng nương
trên lối quê làng cũ, lũ bé thơ hát ca mừng reo
muôn nơi sạch giặc thù, đôi ta cùng trọn đời bên nhau…
(Em Vẫn Đợi Anh Về – 1980)
…Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi, đất nước ta sẽ qua cơn nhọc nhằn
sức anh sức em chung một lòng, ta sẽ cùng xây đắp núi sông… (Sài Gòn Ngày Chiếm Lại – 1980)
Sau đó khá lâu anh em mới biết Khải gọi nhờ cú phôn giã biệt đó từ apartment của một anh bạn trong tổ chức. Còn chuyến đi đó là Khải tháp tùng chuyến mở đường của Thầy Minh về dựng chiến khu. Trời ơi, chí khí như vầy viết sao hết?
1981.Chỉ ngang ngọn dáo vào ngàn hang beo… Xốn xang không chịu được. Không dưng cứ bắt nghĩ hoài, nghĩ hoài, về những thay đổi cùng trời cuối đất để thích ứng với môi trường lạ hoắc của bạn ta, một tên lính thủy lên rừng: Từ chiến hạm tới chiến hào – Từ tiểu lễ trắng tới bà ba đen – Từ dây biểu chương đỏ tới khăn rằn xám – Từ tách cà phê Hầm Gió tới ca nước gạo rang vùng tam biên – Từ cá thu tươi sốt cà tới khô cá hố – Từ kính sextant tới la bàn bỏ túi – Từ thứ bảy đi bờ bát phố tới chiếc võng và cây đàn dưới gốc bằng lăng trong ngày “Im Lặng” – Từ Gunship PGM với cao xạ Beaufort 40ly tới …sức mạnh dân tộc là chính – Từ dĩa chateaubriand steak ở Thanh Bạch tới ca mì gói MaMa chua cay trơn tuột – Từ gói Cotab béo ngậy tới bịch thuốc rê khét đắng – Từ thẻ kẹo Chicle gum tới vốc quinine – Từ “ra đi không vương thê nhi” tới Lá Thư Người Kháng Chiến…
thức suốt đêm nay anh viết về cho em yêu
anh viết về cho con ngoan với những dòng thương mến
nơi đây cây lá như đang thì thầm
bên ánh lửa đang bập bùng làm lòng anh nhớ mong
dứt áo ra đi anh quyết vì làng quê
đang mong ngóng từng người trai mau mau trở về quê cũ
em ơi, em nhớ hiểu cho rằng là đất nước ta
đang đợi chờ và giục anh bước về…
…em ơi, ngăn cách ta đâu sờn lòng
mong non nước mau hòa bình: đẹp ngày vui chúng mình.
(Lá Thư Người Kháng Chiến – 1981)
Vợ còn chưa có, có chi con? Vậy mà cứ thoải mái làm nhạc biên thư gửi vợ, thăm con. Khải đang xỏ chân vào đôi giày của một vài bạn đi cùng chuyến chăng? Của bạn Nguyễn Trọng Hùng? Của bạn Trương Tấn Lạc? Của những người chỉ dõi mắt nhìn về phía Đông là phía trước?
1981.Xưa nay chiến địa dường bao… Lại nghĩ tiếp, về bạn mình. Thử mường tượng ra những ngọn núi chơ vơ giữa rừng già nhiệt đới. Cây cao, bóng cả. Ngày nóng, đêm lạnh. Muỗi vắt tràn đầy. Bạn mình học trong lều, những lớp chân truyền. Bạn mình họp trong hốc núi, bẻ nhỏ chiến lược canh tân đường dài miên viễn thành chiến thuật giải phóng giai đoạn trung hạn và ngắn hạn. Bạn mình ghi chép tài liệu bằng cái máy đánh chữ Remington cò mổ tróc sơn của Thầy Minh cho mượn. Bạn mình tìm chỗ hóc hiểm để tính kế ráp máy phát thanh và dựng ăng ten. Bạn mình kiếm cách dấu máy phát điện sao cho đừng tỏa khói thành cột hoặc gây ra tiếng động ồn ào. Bạn mình soạn bài giảng trên chiếc bàn tre ọp ẹp, về các kỹ thuật vận động đồng bào thành phong trào quần chúng. Bạn mình trang bị lại cho nhiều bạn khác ngồi bệt dưới những tàn cây, cả những bạn từ bên kia trở về với khẩu AK hoặc một cây B. Ngày dạy. Tối gác. Tắm suối. Ngủ võng. Chu kỳ làm việc 9 ngày thay cho một tuần 7 ngày…. Rồi bạn mình ngồi ghé lên tảng đá cạnh lều, khảy đàn làm nhạc. Thỉnh thoảng có một tối sinh hoạt đông người, có chè đậu, có đống lửa, có đàn thùng….
bùng lên bùng lên lửa thét vang trong rừng đêm nay
bùng lên bùng lên lửa thét vang trong lòng reo sôi
bùng lên bùng lên lửa thét vang trên vạn đôi vai
lửa thét vang trên mặt sáng ngời
bùng lên bùng lên lửa ơi bùng lên xóa tan đêm dài…
bùng lên bùng lên lửa sáng soi nung hồng tim anh
bùng lên bùng lên lửa sáng soi nung hồng tim em
bùng lên bùng lên lửa sáng soi nung lòng muôn dân
lửa sáng soi nung lòng xóm làng
bùng lên bùng lên lửa ơi, bùng lên phá tan gông xiềng.
(Lửa Cháy Trong Rừng – 1981)
1981.Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu… Lửa trong tim. Lửa trong máu. Lửa trong rừng. Lửa muốn bùng, muốn lan về tận đồng bằng Âu Mỹ. Lửa muốn vươn lên tận Na Uy cực Bắc. Lửa muốn rọi xuống Úc cực Nam. Lửa muốn tỏa cao ngọn tràn về Việt Nam yêu dấu. Nói gì đây với các bạn đồng lứa? Nhắn gì đây với các bạn đồng khóa, các bạn đàn anh, các bạn đàn em, các bạn cùng trường, các bạn đã từng một thời ở cùng chiến tuyến? Núi sông vẫn đang chờ mãi? Dân ta vẫn đang chờ mãi? Đến khi nào?
Chính Khải cũng đang chờ mãi. Bao nhiêu bạn 24 giơ tay? Bao nhiêu bạn khác, đã gặp và chưa gặp, có chung một tần số suy tư về đất nước? Bao nhiêu bạn đã quen và chưa quen có chung một ước vọng thiết lập đài phát thanh kháng chiến? Bao nhiêu bạn sắp quen sẽ chuyển đổi ước mơ thành hành động? Bao nhiêu bạn sắp quen sẽ có dịp cùng hát vỡ phổi Bài Ca Đông Tiến?
rừng đêm nay âm u bóng trăng mờ mờ xa biên khu
đoàn người đi bên nhau mắt căm hờn còn in bóng thù
chìm trong cây tiếng chim như giục lòng ai
gió theo như giục bước dài
màn sương rơi thấm vai, núi sông vẫn đang chờ mãi
quyết thề cùng lòng chiến đấu cho một ngày mai
ơi! anh em ơi! tiến qua trời đông, quân reo vang khắp nơi tưng bừng
ơi! anh em ơi! tiến qua trời đông, mai sương tan đón thái dương hồng
nắng say men lòng rung khắp nước Nam
đoàn quân qua phương đông, mắt trông vời miền quê xa xăm
rừng hôm nay hân hoan đón ta về toàn dân réo mừng
thù kia ơi, bấy lâu ta còn nung sôi, bấy lâu ta còn nhớ hoài
dù xương rơi, máu rơi, núi sông vẫn đang chờ mãi
quyết thề cùng lòng chiến đấu cho một ngày mai
vượt Trường Sơn đêm nay, bước chân dài lòng ta mê say
hành trang mang trên vai, lá cây rừng còn in dấu giày
thù chưa vơi, nước non như giục lòng ai, bước đi ta còn bước hoài
dù chông gai, hiểm nguy, núi sông vẫn đang chờ mãi
quyết thề cùng lòng chiến đấu cho một ngày mai
(Bài Ca Đông Tiến – 1981)
1982.Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió… Ngày lên đường, chẳng màng hoa lài hoa sói, nói chi tới cúc trúc mai lan. Nay lủi thủi trong rừng, bóng người chen bóng lá. Liệu là bạn mình có để ý… Nếu mai không nở… lấy ai nhắc xuân về? Tết ngoài này là một quay đầu ngó lại, và ngó nhau. Hải ngoại đã bắt đầu có bánh chưng xanh, có tràng pháo đỏ. Có hàng mứt đủ màu. Có cành đào sai nụ…
Hải ngoại có cả thư nhà kể chuyện xuân về trên vùng kinh tế mới. Bo bo với bột mì không gói được bánh tét bánh chưng. Thằng em trai còn đang tính kế trốn nghĩa vụ quân sự. Con em gái phải bỏ ngang công trình thủy lợi. Hỏi còn lòng dạ nào ăn Tết? Gói bột ngọt và chiếc quần jeans gửi về đã bay ra chợ trời tức khắc. Xuân đến làm gì? Tết nhứt mà chi?
Còn bạn ta? Tết nhứt trong đó ra sao? Có được thêm gói thuốc thơm, khúc lạp xưởng, nhúm trà tàu và đôi ba cây viết Bic?
…mừng mùa xuân chim vang trên cây lá
bước chân xa phiêu du thoáng nghe tưng bừng
mặt trời loang trên vai chan tóc gió
tiếng quân ca bên nhau chiều nay ầm vang
mùa xuân khởi nghĩa toàn dân hôm nay
thề giải phóng đất nước hết quân tàn ác
vòng tay anh cứng như đồng
bàn tay em mát như lòng
cùng chung ta quyết phá tan gông cùm
bừng mùa xuân non cao lên tiếng thét
thoáng xa xa mê say suối reo vang rừng
một đoàn quân mơ xuân theo ánh mắt
nhắn quê xưa một ngày khởi nghĩa thành công
(Mùa Xuân Khởi Nghĩa – 1982)
Hóa ra, trong đó, xuân hạ thu đông chẳng khác gì nhau. Túm lại, với các kháng chiến quân, rừng già chỉ có hai mùa: mùa mai phục và mùa khởi nghĩa. Dường như anh em đã có cảm giác bó chân. Dài cổ học hoài mà chưa được cho xuống núi. Bài nhạc xuân, do vậy, có hơi hướm cuồng cẳng của những con người nghĩa dũng chờ phát pháo lệnh.
1983.Sứ trời sớm giục đường mây… Cương Lĩnh Chính Trị. Đại Hội Chính Nghĩa. Cơn sóng trào dâng triệu triệu người. Mắt sáng. Môi cười. Mặt ngẩng cao. Tay vỗ vai, tay bắt tay vồn vã. Chưa bao giờ người Việt Nam ở nước ngoài có thể tập họp mười một ngàn người một lúc, một chỗ. Tình nhớ, Tình sầu, Tình xa, Tình lận đận, và cả Tình tang hay Tan tác nhạn đã xa bầy… hoàn toàn không có chỗ đứng, không chen vào đâu được.
“Vì tương lai của dân tộc, vì tương lai của đất nước, vì tương lai của con em chúng ta, vì tương lai của chính chúng ta, vì tương lai của toàn thể Việt Nam yêu dấu”… Đỉnh cao lòng người bây giờ là phất phới cờ bay… Hẳn là bạn mình trong kia không khác:
…cờ bay, cờ bay, quân ta về rộn như sóng khơi
đường xa tràn tới, sát vai nhau ta thề giành lại quê xưa
tiến lên đoàn quân ơi, cờ tung bay bay khắp mọi nơi
cờ tung bay lừng vang thế giới
trái tim anh nung hồng, trái tim em không sờn
làm cho xứng danh giống nòi Việt Nam
(Cờ Bay Trong Vòm Trời Cũ – 1982)
Cờ đã bay trong rừng. Cờ đã bay dưới phố. Cờ tung bay trên làn sóng ngắn 40 thước hay 7400 kýlô chu kỳ, kể từ ngày 27-12-1983. Đài phát thanh Việt Nam Kháng Chiến đã chính thức giành lại không trung Việt Nam. Đã chính thức giành lại khung vòm trời cũ.
1984.Chàng từ sang Đông-Nam khơi nẻo… Thế nào Khải cũng reo vui! Các bạn Khải ngoài này đã nhập cuộc từ ngày Khải gửi lời nhắn nhủ “Hãy đi – Khắc tới”: Lê Mỹ Long, Nguyễn Ngọc My, Lương Văn Mỹ, Nguyễn Cửu Chi, Tô Tiếng, Trần Văn Luyến, Nguyễn Văn Phẩy, Nguyễn Đăng Tiến, Đặng Viết Nghị, Phạm Trọng Phúc… rồi có thêm Nguyễn Hòa Nguyên góp sức…
Chưa đáng kể. Thế nào Khải cũng reo vui hơn thế nữa: Nhà văn Võ Hoàng về khu chiến. Măng đầu mùa, gởi lại. Câu chuyện người ăn mày và cánh cửa đóng, gởi lại. Đi, hành trang có niềm tin, quyển thơ Nguyễn Trãi, tấm hình vợ con. Lại thêm một tay lính thủy lên rừng. Cũng là dân ít nói. Chỉ làm. Làm tận mạng. Chắc là phải hợp rơ. Chắc là phải chia ca lại để cùng săn sóc chương trình “ABC” với 5 giờ phát sóng chính quy mỗi ngày.
Bạn Ngô Chí Dũng đã có thể nhận công tác khác và rất yên tâm rằng “ABC” có cả Võ Hoàng với Trần Thiện Khải chăm lo. Cả hai đều chắc nịch bài bản quân chính. Cả hai đều thuộc diện búng tay ra thơ ra nhạc. Cùng sở trường. Cùng sở thích. Cùng sở nguyện. Hợp rơ là cái chắc. Chẳng vậy mà chỉ ít lâu sau, mọi người đã nhẩm hát bài “Ngủ đi em, mai sáng lên đường”, thơ Võ Hoàng, đề tặng Trần Thiện Khải.
Ngủ đi em. Đêm tối trời hay đêm có trăng? Đừng bận tâm. Ngủ đi em. Chờ sáng lên đường. Chờ ngày hội ngộ.
ngồi quanh xem trăng sáng chiếu ven chân rừng
lặng lẽ muôn ngàn lá ru lời theo gió
trăng nhắn mong ai từ chiến khu mờ
bên lửa hồng một ngày xông pha giết thù
rừng ơi mang trăng sáng đến rung bao lòng
vì nước nên lìa mái gia đình êm ấm
trăng hỡi theo ta về dưới mái nhà
nhắn ai chờ một ngày ta sẽ trở về!
chân vui theo bước tang bồng
đêm nay ôm súng mơ mộng
hẹn người cuối tận trời mong một ngày cách mạng thành công
cây nghiêng nghiêng bóng mây dài
quê hương đang thiết tha lời
từ ngày quân giặc vào đây
là ngày oán hận ngàn nơi… hò ơi, hò hỡi, lòng đã quyết ra đi
vì vương mang câu thề
ngày mai sông núi kia
ngời xanh bao ước mơ…
đàm chim say trăng sáng ngủ yên trên cành
trời lắng đêm dần vắng sương lạnh rơi xuống
vai sát bên vai, lòng ấm bên lòng
mắt căm hờn chờ ngày đi ra chiến trường.
(Trăng Chiến Khu – 1982)
Trăng Chiến Khu – Mori No Naka No Tsuki No Hikari. Giáo sư Masuda -khoa trưởng kịch nghệ đại học Tamagawa- đã chuyển ngữ sang tiếng Nhật và làm nhạc đệm cho vở kịch Nhớ Về Biển Cả Xa Xăm.
Lại biển. Những cánh buồm chuyển bến. Những con tàu đưa người qua eo biển buông xuôi, cặp bờ quật khởi.
1986.Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu… Đại hội Trưởng Cơ Sở kỳ I, ở Nam Cali. Khải không ra. KCQ Võ Hoàng thay mặt toàn thể anh chị em trong đó để ra sinh hoạt với tất cả anh chị em ngoài này về dự đại hội. Bất ngờ. Cả hội trường lúng túng mất mấy giây. Sau đó là một trận pháo tay òa vỡ nỗi mừng vui dính chặt Trong-Ngoài. Không còn một ai ngồi. Những tràng pháo tay vang dội liên tục, khỏa lấp mất đó đây dăm ba tiếng nấc và vài cặp vai rung.
Dù rằng trong đại hội có người, có thể là rất nhiều người, chưa từng gặp tác giả Trong Lòng Cách Mạng. Nhưng sao cứ như không khí một gia đình Việt Nam trước đây có người anh trai lính trận xa nhà lâu ngày về phép. Rõ ràng là một sum họp đầm ấm. Chỉ thiếu điều là có bà mẹ te tái cắp rổ ra chợ mua nhanh mấy món gì đó về “làm liền cho thằng hai nó ăn”! Chỉ thiếu điều là có ông bố hối thằng út ra quán xách 2 chai la-de con cọp về khui. Và chỉ khác là không một ai trong đám anh chị em bu quanh dám nắm tay bá cổ, mà chỉ gửi gắm bao nhiêu trìu mến yêu thương qua ánh mắt. Cả nhà đang họp đại hội mà!
Hỏi thăm về Khải, bạn Võ Hoàng chỉ nói qua loa dữ kiện: khỏe, hăng, tốt… vậy thôi! Nhưng qua câu chuyện cả đêm, anh em hiểu ngầm ý nhà văn kháng chiến muốn kể là Khải nhường công tác cho các bạn có gia đình ngoài này được dịp ra báo cáo với tất cả anh chị em, ghé thăm một số anh em văn nghệ sĩ thân quen, và nhân đó, thăm nhà một thoáng. Nhắn gì cho bạn đây? Gửi gì cho bạn đây? Lột cái đồng hồ nhờ bạn Võ Hoàng trao dùm cho Khải làm kỷ niệm, bạn ta không nhận, bảo rằng Khải sẽ không nhận đâu, vì không muốn khác với anh em trong đó. Hết đường nằn nì năn nỉ. Thôi, chỉ xin gửi một lời nhắn: mong Khải giữ gìn sức khỏe. Võ Hoàng gật đầu. Vậy nha! Thăm Khải và ngôi làng Đồng Sơn mà Khải từng qua.
có những người em chờ anh trong gió
mái tóc nhẹ bay che cánh môi hồng
em ngắm trời xanh cười tươi hớn hở
ô! các anh về áo nhuộm phong sương
có những người em bàn tay xinh xắn
nấu bát chè tươi anh uống cho đầy
đôi mắt hồn nhiên ngồi nghe anh kể
chuyện giết quân thù ở tận chốn xa
có những người em đi chân trần áo xậm
thức sớm ngủ khuya đợi chờ tin kháng chiến
có những người em bên nương cà đám ruộng
dãi nắng dầm mưa một lòng thương mến anh
có những người em chờ anh trong nắng
cây lá chợt vui anh ghé qua làng
đôi má hồng nhan chiều nay bỗng thẹn
anh chiến khu về tóc lộng biên cương
có những người em lòng như hoa sớm
thương những người trai mãi miết sông hồ
đôi mắt dịu êm dường như đã hẹn
ơi các anh về giải phóng quê ta
(Những Người Em Ở Làng Đồng Sơn – 1982)
1987.Trải mấy thu, tin đi tin lại… Khải đã chờ từ ngày đặt chân lên Orote Point. Khải đã trải lòng ra với anh em hai chữ Đi-Về từ ngày rời Fort Chaffee. Khải đã tự mình nung nấu suốt thời gian theo học ở Rhode Island. Khải đã nhắn lời chia tay với anh em qua cú phôn từ Bắc Cali. Khải đã về. Lần này, Khải đếm những bước cuối trên đoạn đường về. Với Thầy Minh. Với bạn Võ Hoàng. Với nhiều bạn khác nữa. Từ tam biên ngoài về tam biên trong. Đích đến là vùng cao nguyên Tây Trường Sơn.
một đoàn quân đi từ sáng tinh mơ rồi
ngàn chim ca hát chào đón bao nụ cười
hẹn cùng ai đó hãy nhớ nhé
đường về quê cũ không bao xa
khắp nơi mong chờ ta quyết đi dựng bóng cờ
mặt trời réo vui trên vai
một ngày xinh tươi trên môi
chở đời đổi mới đến vạn lòng thôi.
(Một Đoàn Quân – 1981)
Đi, hành trang có niềm tin… Không chỉ niềm tin son sắt, mà là cả tấm lòng phơi gan trải mật.
chấp nhận đầu mình rơi, mới mong trăm đầu khác mọc
dù hy sinh tấm thân trong cơn lửa binh
cùng hiên ngang đứng lên tung đập xích xiềng
…chấp nhận đầu mình rơi, mới mong trăm đầu khác mọc
chấp nhận thân mình gục, mới mong ngàn thân khác đứng lên.
(Chấp Nhận Đầu Mình Rơi – 1981)
1981, lúc Khải về chiến khu, thế giới chưa dùng phone di động, còn chưa có cả cordless, nói chi wireless với Wi-Fi. IBM mainframe còn đọc data bằng phiếu đục lỗ, làm gì có Gmail, Hotmail hay Yahoo! Nên anh em không được tin tức nhau nhiều. Đây là lúc đám bạn 24 di tản của Khải ở Mỹ tốt nghiệp đại học nhiều nhất, cùng lúc, cũng là thời những bạn 24 khác của Khải ra tù cải tạo và trở thành tài công vượt biên nhiều nhất. Mà không báo tin thường xuyên được, cho Khải vui.
1984, lúc Khải chăm sóc đài phát thanh Việt Nam Kháng Chiến, nhân loại chưa có MP3, chưa có Cool Edit 2000 để cắt xén ráp nối các file âm thanh, cũng chưa có server để upload hay download bài đọc. Tất cả đều chuyển đổi từ dạng giấy viết qua micro vào audio cassette. Mỗi lần cần phải cắt ngắn vài ba giây của một bài đã đọc và thu analog là …cả một công trình. Mờ người với mấy cái nút forward, stop và rewind. Master sang copy-1. Rồi copy-1 thành master-2…. Anh em “ABC” làm việc như vậy đó, vừa làm vừa gác vừa học thảo, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Chỉ ganh với các bạn được tuyển để về cùng chuyến với Papa Dương Văn Tư hoặc các đoàn Kháng Quản.
1987, lúc Khải vào chặng cuối con đường Đông Tiến, xông pha gió bãi trăng ngàn, tên reo đầu ngựa dáo lan mặt thành, thì cũng là lúc Tổng thống Reagan đứng trước bức tường Bá Linh và để lại cho toàn nhân loại một câu nói bất hủ: “Mr. Gorbachev, tear down this wall!”. Bức tường ô nhục đã sập trong tim những người yêu chuộng tự do từ nhiều năm trước đó. Bức tường Bá Linh đã sập thực sự 2 năm sau đó. Có còn sót lại chăng, bấy giờ, nói theo Bắc Phong, là những bức tường ngờ vực, tị hiềm và vị kỷ đâu đó trong lòng chúng ta, ở ngoài này.
1987, dân Mỹ chỉ mới nhảy vọt bước bức phá vi tính từ dàn Intel 286 lên 386, và còn thịnh hành khắp nơi loại ổ dĩa mềm Floppy 5 inch rưỡi. IBM đã nâng cấp bàn máy đánh chữ cò mổ lên máy đánh chữ quả cầu, vẫn còn nghênh ngang thế giá trong các văn phòng, các công ty. Thế giới bấy giờ chưa có CD Rom Drive và WinWord. Cũng chưa có Starbucks Coffee. Cái ca cà phê gạo rang của Khải và cái máy đánh chữ mổ cò mà Khải thường xin dùng nhờ của Thầy bây giờ ở đâu?
1989.Tới xuân này tin hãy vắng không… Đoàn khác lên đường. Vừa tìm Thầy, tìm Bạn; vừa nối gót các bạn tiên phong thâm nhập tiếp. Nhồi sóng. Liên hoàn. Đứng lên.
Trong tiết mục Văn Học Nghệ Thuật của đài Việt Nam Kháng Chiến, phát thanh ngày 15 tháng 5 năm 1986, nói về “Tình yêu và Quê hương trong Kháng Chiến Ca”, có đoạn:
“… Trong nhiều bài ca kháng chiến, tình yêu được ca tụng nhờ tính thanh cao và hy sinh của nó. Nỗi lòng của những người mẹ, người vợ, người em, người yêu, v.v… là nỗi lòng của những người thiết tha với quê hương, sẵn sàng hy sinh những tình cảm bấu víu, tạm bợ, mong manh trước mắt, để hòa lòng vào nhịp đập đấu tranh cách mạng của toàn dân trong giai đoạn cứu nước này. Can đảm khuyến khích người thân dấn bước lên đường làm nhiệm vụ cứu nước, sẵn sàng lăn xả vào đấu tranh không kể gì đến thân mình và một lòng tranh đấu cho quê hương… chính là tấm lòng cao cả, là những tấm gương sáng và là tình yêu mà Kháng Chiến Ca đang xiển dương, hát tặng…”.
Những người chinh chiến bấy lâu. Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây. Miễn là có người nối bước. Miễn là có người đi tới. Lừng lững đi tới. Hào hùng xốc tới. Hiên ngang dấn tới. Mọi ngả. Mọi đường. Mọi cách. Quy luật này từng được đồng bào ta từ thời dựng nước gọi là Lịch Sử.
1992.Dấu chàng theo lớp mây đưa… Người KCQ mang bí số 250 đưa bạn Khải đến thăm bờ sông chỗ vượt, lặng lẽ nhìn dòng nước xiết đục ngầu phù sa. Ngồi vào chỗ Khải từng ngồi trên chiếc bè bây giờ làm quán nổi. Gọi lại chén chè Khải từng thích trong chuyến tiền thám trước lúc lên đường chặng cuối. 250 dùng một que ngắn vẽ xuống cát những con đường tiền thám. Kể chuyện Khải bị vật te tua vì sốt rét. Kể chuyện mở đường về Lao Bảo, Khe Sanh. Kể chuyện lính biển đánh đặc công núi. Kể chuyện Thầy Minh góp ý sửa lời một dòng nhạc, cho bớt sắt máu, cho thêm nhân bản. Kể chuyện tô mì gói trơn tuột và điếu thuốc rê khét đắng giữa rừng….
250 nói về những chuyến xâm nhập thành công tương đối dễ thời 84-85, và những khó khăn gia tăng thời 87-89. Anh nêu ra một nhận xét ít người nghĩ tới: Giá mà đừng có vụ chấn chỉnh nhân sự 1984, thì Thầy không phải ra đó giải quyết. Anh Đặng Quốc Hiền không phải trấn thủ chiến khu cho tới lúc bệnh sốt rét trở thành quá nặng đến mức tử vong. Như vậy, đoàn lớn sẽ do anh Hiền chỉ huy lên đường năm 85 với xác suất thành công rất cao, mà Thầy không phải thân hành điều động. Trần Thiện Khải với Võ Hoàng sẽ về trấn vùng Bắc Kontum. Và tới lúc xảy ra biến cố Đông Âu-Liên Xô năm 90-91, Thầy đã có cách kết hợp được các áp lực trong-ngoài thành một số biến cố châm ngòi….
Bạn Khải lặng người. Rồi quyết định nối gót. Cùng với một số bạn khác. Mở đường khác. Lập nhánh khác. Nối dây khác. Bằng đường xe ôm, bằng đường ghe đò, và cả đường hàng không. Cách mạng đường dài. Người đi như con nước miệt mài…
Những dây nối bắt vào phía Nam Trường Sơn, với những con người tự trọng không chờ người khác suy nghĩ giúp, từ Củ Chi, Sài Gòn, lên Lang Biang, Đà Lạt, ra tới Sông Hương, Cửa Việt, rồi ra tận Hà Nội, Hải Phòng…
Lịch sử mai mối những hẹn hò sĩ phu gặp gỡ tay đôi ở đỉnh Peak Hương Cảng, ở Pra Keo Vọng Các, ở trước nhà hát con sò Sydney, ở thảo cầm viên San Diego, ở đầu cầu Kim Môn Kiều, ở một suối khoáng dưới chân núi Phú Sĩ; và ở ngay giữa lòng cư xá Thanh Đa-Sài Gòn, cửa Thượng Tứ-Huế, hoặc phố Lò Đúc-Hà Nội…
Lịch sử chỉ lối cho những KCQ vượt tù. Lịch sử khuyến khích các KCQ nội thành phát triển thêm người mới, vào vị thế mới, dùng phương pháp mới. Lịch sử giới thiệu những Linh mục, những Hòa thượng, những Truyền giáo, những Chức sắc Cao Đài, Hòa Hảo…
Lịch sử mở đường tiếp cận với nhiều tập thể tuổi trẻ ở Hán Thành, ở Đài Bắc, ở Osaka, ở Johor, ở Tân Gia Ba, ở Paris, ở Boston, ở Toronto, ở Sydney, ở Brisbane, ở Melbourne, ở Wellington… Nhiều người lừng lững trở về từ nhiều ngả. Kỹ thuật vi tính cũng nhiều ngang ngửa với kỹ thuật đấu tranh đối đầu phi bạo lực và phi quy ước. Lịch sử bắt thang vượt tường lửa. Lịch sử đều đặn gửi mass-email, SMS, AIM…
Ngày càng nhiều thêm những ngả về mở rộng, thật lẫn ảo. Những con nước vẫn miệt mài, ngầm lẫn nổi. Những người về vẫn lừng lững, đêm lẫn ngày. Lịch sử nối dây chuyền các cuộc đình công. Lịch sử chúc mừng các tổ chức ngoài luồng. Lịch sử gửi thiệp mời ra mắt chính đảng. Lịch sử gọi nhau mặc áo trắng ra đường.
Người về một ngày một đông thêm…. Lịch sử còn mở đường cho phóng viên ABC của Úc, LA Times của Mỹ, TV2 của Na Uy… vào Việt Nam để gặp tận mặt, nhìn tận mắt, bắt tận tay những con người lịch sử. Lịch sử mời cả CNN qua Bá Linh thu hình phóng sự….
2007.Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao… Cuộc đấu tranh đã lật sang trang khác. Lịch sử tạm gác quá khứ và hoàn cảnh sang bên. Chỉ nhắm vào mục tiêu thống nhất trước mặt. Vẫn con đường toàn dân-toàn diện. Vẫn một lòng giải phóng-canh tân. Phương hướng và phương pháp dựa trên sở trường của từng nhóm. Đồng hành hoặc song hành. Cộng tác hay hợp tác. Liên đới đồng thời hay liên hoàn tung hứng… Lịch sử tuần tự cột gút lại thành những liên kết, liên minh, liên đảng…. Cuộc đấu tranh đang bước lên một tầm vóc mới.
con đường chông gai không bao giờ khó
là bởi vì ta chấp nhận nguy nan
này anh em ơi
ta là người kháng chiến quân Việt Nam
thề mai sau quyết tâm xây lại tự do
góp sức chung lo vun sới giữ gìn
cho khắp nơi nuớc Nam vui bình yên
dân tộc ta sống trong hùng cường.
(KCQ Hành Khúc – 1982)
Anh em không nhớ Sinh viên Khải. Anh em không nhớ Thiếu úy Khải. Anh em không nhớ Kỹ sư Khải. Anh em không nhớ tay đàn độc cô cầu bại Trần Thiện Khải. Trong lòng anh em chỉ còn mỗi mình Kháng chiến quân Trần Thiện Khải.
Chỉ còn mỗi lời Khải nhắn: “Hãy đi. Khắc tới”.
Chắc chắn ngày sẽ tới. Đêm sẽ reo vui. Sáng và êm như trăng thanh bình.
Cả đời Khải đã trải qua biết bao con trăng. Trăng Trung Thu ở Phan Thiết. Trăng Phật Đản ở Vĩnh Nghiêm. Trăng Nguyên Tiêu ở Đại học xá. Trăng dát vàng trên sóng trải dài từ cổng trường ra tận Hòn Tre. Trăng treo đỉnh núi trong những chuyến hải hành đêm. Trăng dát bạc trên tuyết ở Rhode Island. Trăng rừng chiến khu lung linh trên ngọn bằng lăng có chắp thêm đoạn tre già làm trụ ăng ten của đài Việt Nam Kháng Chiến….
Đối với tất cả anh em quen biết, chỉ còn đáng nhớ độc nhất một vầng trăng: Trăng Khải.
Hãy dõi bước anh em: Bọn mình đã đi. Vững tin sẽ tới. Đã nhắm về hướng Đông. Sẽ gặp Khải ở đó. Dưới bóng cờ vàng. Trên đài hoa trắng. Trước cổng thôn xưa. Trong vòm trời cũ….
Sẽ gặp Khải ở đó. Trong ánh mắt sáng, trên nụ cười tươi, của đồng bào cả nước, Khải ơi.
(Mùa Phật Đản 2551)
Chú thích: Tất cả lời nhạc in chữ nghiêng trong bài đều được trích từ tập nhạc Trăng Chiến Khu của KCQ Trần Thiện Khải.
Comments